Góp phần ngăn chặn đại dịch

0

HIV/AIDS tại Việt Nam là dịch tập trung. Tỷ lệ nhiễm HIV trong quần thể dân cư ở độ tuổi 15-49 là 0,26%, tuy nhiên, tỷ lệ này là 21% trong số 271.506 người tiêm chích ma túy (TCMT). Một nghiên cứu mới nhất chỉ ra, TCMT là nguồn chủ yếu gây ra lây nhiễm HIV ở Việt Nam và người TCMT chiếm tỷ lệ lớn nhất trong những trường hợp phát hiện nhiễm HIV.

40% người TCMT nam giới có quan hệ tình dục không bảo vệ với bạn tình thường xuyên trong 12 tháng, cho thấy bạn tình của người TCMT có nguy cơ cao nhiễm HIV, trong khi rất ít bạn tình nữ của người TCMT đã xét nhiệm HIV. Con số nhiễm HIV trong nhóm bạn tình nữ của người TCMT nói chung là cao, tới 5%. Tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn rất nhiều (16% HIV) trong những bạn tình nữ của người TCMT và tỷ lệ này cũng cao hơn rất nhiều (17,7% HIV) trong những bạn tình nữ của người TCMT có nhiễm HIV.





gop phan ngan chan dai dich
Tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS 

Trước đây, đã có nhiều nghiên cứu về quan hệ tình dục đồng giới nam ở Việt Nam, nhưng thường tập trung tìm hiểu hành vi nguy cơ, còn vấn đề sức khỏe tâm thần và mối liên quan với các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm này chưa được quan tâm. Nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả Trường ĐH Y Hà Nội và Trung tâm CARMAH đã cho thấy thực trạng trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan ở nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh năm 2015 là có thật: Tỷ lệ đối tượng có các vấn đề sức khỏe tâm thần khá cao, như stress chiếm 31%, trầm cảm 49,1%, lo âu 57,7%.

Cũng cần lưu ý tính vùng miền khi điều này ở TP Hồ Chí Minh cao hơn hẳn Hà Nội. Các hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV như sử dụng, tiêm chích, dùng chung bơm kim tiêm khi TCMT, không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục và bị bạo lực tình dục là các yếu tố liên quan với trầm cảm, lo âu và stress.

Lần đầu tiên, Việt Nam đã có một nghiên cứu với nhóm phụ nữ chuyển giới do nhóm tác giả Lê Quốc Bảo thực hiện. Việc nghiên cứu này đã chỉ ra nguy cơ lây nhiễm HIV cao từ những người phụ nữ chuyển giới, bởi họ chịu nhiều tác động của sự kỳ thị, phân biệt đối xử và bạo lực. Hành vi tình dục nguy cơ cao khá phổ biến khi 35% số người này cho biết có mua bán tình dục và 31% không thường xuyên sử dụng bao cao su với khách hàng và bạn tình bất chợt. 99,5% đã từng có quan hệ tình dục với nam và 3,4% đã từng có quan hệ với nữ. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ chuyển giới được nghiên cứu là 18%, giang mai là 17,6%. Nhưng chỉ một người trong số những người có HIV biết trước tình trạng nhiễm của mình.

Thực tế này chỉ ra, phụ nữ chuyển giới có hành vi nguy cơ và có tỷ lệ nhiễm HIV cao, nhưng lại chưa có chương trình dự phòng HIV riêng cho nhóm này. Các chương trình can thiệp với nhóm đồng tính nam có thể chưa thu hút được sự tham gia của phụ nữ chuyển giới. Vì vậy, nghiên cứu đã chỉ ra việc cần có các can thiệp về dự phòng, tư vấn, xét nghiệm HIV, sàng lọc và điều trị tập trung vào nhóm phụ nữ chuyển giới tại Việt Nam.

Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur Nha Trang và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa cũng chỉ ra ảnh hưởng của kỳ thị và phân biệt đối xử tác động xấu đến cả thể chất và tinh thần của người nhiễm: tỷ lệ người nhiễm có ý định tự tử chiếm 10% và 72,5% đối tượng trả lời không tiếp cận các phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện vì sợ bị kỳ thị; 16,7% đối tượng không thể tiếp cận với điều trị kháng virus HIV vì lý do sợ kỳ thị. Có 4,5% người nhiễm bị xâm phạm quyền, 3% người nhiễm bị ruồng bỏ, xa lánh, 8% bị từ chối tham gia các hoạt động trong cộng đồng. Hiện nay, thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV diễn ra không chỉ tại Khánh Hòa và chính điều này gây khó khăn cho công tác ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam.

Mặc dù ở Việt Nam ít nói đến tình trạng nam bán dâm đồng giới. Nhưng những nghiên cứu mới nhất cho thấy, những người đồng tính nam bán dâm có nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây truyền đường tình dục cao. Vì thế, các chương trình truyền thông HIV/AIDS cần tập trung vào những người ít và chưa tiếp cận thông tin về HIV/AIDS và bệnh lây truyền đường tình dục.

Nghiên cứu chỉ số kỳ thị với người có HIV do mạng lưới quốc gia người sống với HIV Việt Nam thực hiện cho thấy, đã có những thay đổi tích cực kể từ năm 2011, bao gồm quyền của người có HIV bị vi phạm đã giảm. Tuy nhiên, kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV vẫn còn cao, dưới nhiều hình thức và ở các lĩnh vực khác nhau như kỳ thị của cộng đồng (23,3%) vẫn bị xì xào kỳ thị, 5,8% bị xúc phạm và phân biệt đối xử ở nơi làm việc khi vẫn có những người bị mất việc làm, hay bị từ chối việc làm.

Ở cơ sở y tế, nhiều người có HIV mới được chẩn đoán gần đây cho biết, họ bị buộc phải làm xét nghiệm HIV và rất nhiều người nói tình trạng nhiễm HIV của họ đã bị tiết lộ cho người khác mà họ không biết. 63,7% có HIV mới được chẩn đoán gần đây không bộc lộ tình trạng nhiễm HIV của mình với bạn tình vì họ sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Những người đồng tính nam sống với HIV bị kỳ thị và phân biệt đối xử cao hơn so với các nhóm nguy cơ cao khác. Vì thế, khoảng 29,6% cảm thấy muốn tự tử, khi 15,7% bị bạn tình kỳ thị và 14,1% bị gia đình kỳ thị.

Thực trạng này chỉ ra rằng, kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn là những rào cản chính để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu 90-90-90 đến năm 2020, nghĩa là 90% số người biết được tình trạng nhiễm HIV của mình, 90% số người nhiễm HIV được điều trị thuốc ARV và 90% số người điều trị ARV có tải lượng virus thấp và ổn định.

 

 

Leave A Reply

Your email address will not be published.